Đừng tin vào sự thù ghét trong bạn.
Luận điểm “AI sẽ cướp việc của chúng ta” thuần túy dựa trên nỗi sợ, sự bất an và thù ghét sẽ đẩy ta ra xa khỏi vấn đề thực sự, thiếu sự chuẩn bị đúng đắn cho tương lai.
“Bạn hơn AI điều gì?” lặp lại liên tục không phải lời khiêu khích. Đó là một sự trăn trở sâu sắc được cụ thể hóa thành bài test năng lực, phản ánh đúng nhu cầu của thị trường. Ai vượt qua được phép thử này, người đó sẽ là lá cờ đầu dẫn dắt cuộc cách mạng số.
1. Trách nhiệm
Cách đây không lâu, những lập trình viên dùng AI bị khinh như hủi. Sản phẩm của họ bị dán nhãn rác rưởi, tạp nham và đầy rẫy lỗ hổng. Các F0 này gánh hàng vạn định kiến - nỗi xấu hổ của ngành công nghiệp chất xám.
Cũng cách đây không lâu, người xung quanh ta bắt đầu dùng AI. Họ ngồi sát ta, sát tới mức mùi thức ăn sực lên thơm lừng, mời gọi. Nó thôi thúc chúng ta đứng dậy, không phải vì tò mò, mà bởi cơn đói của nỗi sợ tụt hậu đang réo rắt. Họ tìm thấy nó như thể thấy được người đồng nghiệp hợp cạ nhất mình từng gặp, một trợ lý đắc lực ai cũng nên có.
Cũng rất gần đây thôi, tôi bắt đầu dùng AI. Sự e dè, đố kỵ với thứ công nghệ cao này dần tan biến. Suy cho cùng, sếp giao việc cho tôi, đâu phải máy móc. Bất kể dùng công cụ gì, người gánh hậu quả cuối cùng vẫn là tôi. Chẳng mảy may ý định đổ lỗi cho thứ máy móc đó bao giờ nữa.
Suy cho cùng, AI không biết đi tù, cũng chẳng biết chịu đòn.
Trong các văn bản pháp luật, trách nhiệm giải trình (accountability) là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền làm rõ thông tin, giải thích kịp thời, đầy đủ về quyết định, hành vi của mình trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao. Không một chữ nào về AI.
Có lẽ luật sẽ thay đổi vào ngày loài người phải xin chữ ký máy móc để làm điều gì đó. Còn bây giờ, chúng ta luôn phải chịu trách nhiệm với bất cứ quyết định nào của mình.
AI không tước đi công việc của ta, thực chất nó là một đợt “thăng chức” ép buộc. Đột nhiên, tất cả chúng ta đều được đẩy lên vị trí của người cầm trịch, người kiểm duyệt cuối cùng. Rất nhanh thôi, nó chia thế giới thành hai nửa đối cực. Những kẻ “Yes-man” vốn dĩ rỗng tuếch sẽ ngày càng yếu đuối, rủi ro. Ngược lại, với người bản lĩnh, công cụ càng mạnh, niềm tin cộng đồng dành cho họ càng tuyệt đối.
Sự phân hoá đó được nới rộng giữa kỷ nguyên lạm phát ngôn từ.
Từ ngày có AI, con người viết nhiều chữ hơn. Ý tưởng mới nhen nhóm lập tức được máy móc bơm phồng thành những đoạn văn chật ních. Lượng chữ đắp thêm vào chỉ nhằm khoả lấp lỗ hổng câu từ, tránh cảm giác cụt lủn. Về bản chất, hàm lượng thông tin không thay đổi.
Ở phía ngược lại, người đọc cũng ngộp thở trước những “bức tường bằng text” này. Sợ sót ý nhưng lười nghiền ngẫm, họ ném ngược cho AI tóm tắt. Sự lố bịch nằm ở chỗ: hai con người đang cố gật đầu đồng thuận, dựa trên hai phiên bản văn bản chỉ trông “có vẻ giống nhau”.
Lạm phát ngôn từ chính là cái giá của việc trốn tránh trách nhiệm tư duy. Sự dễ dãi với AI đang bào mòn giá trị văn bản và kéo theo gánh nặng kiểm duyệt khổng lồ. Vốn dĩ, chữ viết sinh ra để ghim chặt sự thật, chống lại sự hao hụt của truyền miệng. Nhưng nay, ta đem nhiệm vụ đó phó mặc cho những công thức bí mật của máy tính. Sự hời hợt này đẻ ra vô số thứ phí vô hình. Chúng âm thầm cộng dồn lại, chực chờ đè nát kẻ đặt bút ký tên.
Sự chú ý của tôi thường rơi vào những bài viết mà tôi cảm thấy rằng người viết hẳn phải tự nhốt mình hàng tuần trời, cách ly với xã hội và từ bỏ mọi cuộc vui. Rằng họ phải lật không biết bao nhiêu trang sách, đốt hàng tá gói cafe để rồi đục đẽo ra từng câu từng chữ trong đó. Họ tận hiến từng ngày từng giờ của mình để tiết kiệm từng giây từng phút cho người đọc. Sẽ thật hạnh phúc biết bao nếu thế giới đầy ắp những con người như vậy.
Vậy nên, hãy dùng AI để tạo giá trị lớn hơn. Người ta sẽ khắt khe soi xét phần giá trị mà bạn đã đắp bồi trên nền AI. Hãy tạo ra sản phẩm khiến người ta cảm được, tin rằng không có bàn tay con người, nó không thể tồn tại. Đừng để cho sự thờ ơ, cẩu thả len lỏi vào tâm trí ta dưới vỏ bọc “giải phóng sức lao động”.
2. Tò mò
Tháng 3/2016, huyền thoại Lee Sedol đặt nước cờ thứ 78 đánh sập siêu AI AlphaGo. Cỗ máy tỷ đô vỡ vụn trước nước đi mà nó đã tự gạt bỏ, chỉ vì xác suất người chọn là 0,01%. Khi được hỏi, Lee Sedol không dùng logic để giải thích. Ông đáp: “Vì đó là nước duy nhất tôi nhìn thấy.”
Mười năm trước, nhìn ván cờ ấy, tôi tự hỏi: AI rốt cuộc là cái quái gì mà người ta thích “set kèo” với con người đến vậy? Thời đó, AI vẫn là một thế giới khép kín. Thầy cô nói rằng muốn chạm vào nó phải học thật giỏi các môn tự nhiên. Rằng AI là mô hình xác suất, phải những người có đam mê giải toán mới theo đuổi được.
Ngày ấy, con người là thước đo chấm điểm máy móc: “AI hạ được người chơi bao nhiêu Elo?”. Nhưng nay thế cờ đã đổi, AI lại thành thước đo giới hạn con người: “Kiện tướng này trụ nổi model level mấy?”.
Giờ đây, trí tuệ nhân tạo hiện diện ở mọi ngóc ngách, phổ thông như một chiếc điện thoại. Người ta không cần phải quá giỏi toán mới dùng được nó. Những mô hình xác suất khô khan kia giờ đã có da có thịt. Chúng được gắn ống kính camera để nhìn, mic thu để nghe, mang một dáng vẻ rất “người”.
Nhưng xác suất vĩnh viễn chỉ là xác suất, và những ngoại lệ 0,01% như AlphaGo vẫn luôn tồn tại. Giống như cơn mưa rào vẫn bất chợt trút xuống giữa ngày đài báo 90% nắng.
Vấn đề nằm ở chỗ, AI được lập trình để luôn chọn đáp án “an toàn nhất” và “có vẻ đúng nhất”. Nó phải như thế vì con người muốn thế. Chúng ta luôn muốn máy móc phải phục tùng. Nếu một hệ thống chọn đáp án không phải xác suất cao nhất, nó sẽ bị báo lỗi. AI vĩnh viễn mắc kẹt trong ranh giới an toàn của chính nó.
Còn con người thì sao?
Chúng ta luôn bị giằng xé giữa “phải trái - đúng sai”. Loài người vốn dĩ là sinh vật của sự bất hợp lý. Ngay cả khi lý trí đã vạch sẵn một lộ trình tối ưu, một chút thôi thúc bản năng cũng đủ để lật nhào mọi tính toán. Nhưng chính sự “bất hợp lý” ấy lại là cội nguồn của tự do.
Loài người chinh phục thế giới bằng trí tò mò và khao khát. Chúng ta căng buồm ra khơi đến những nơi chưa ai tới, tìm kiếm những thứ chẳng biết có tồn tại hay không. AI không có động lực tự thân, trong khi con người có thừa khao khát - nhiều đến nỗi ta phải giấu bớt vào giấc mơ. AI đi tìm sự an toàn, nhưng con người cần đánh cược để bứt phá.
Sự vĩ đại chưa bao giờ nảy mầm từ những phép tính an toàn. Nếu ai cũng thu mình trong vùng an toàn của các con số, cái mới sẽ vĩnh viễn không ra đời. Đứng trước một bài toán có 99,99% tỷ lệ thất bại, máy móc sẽ lập tức báo lỗi và dừng bước. Còn con người thì khác. Dù xác suất thành công chỉ có 0,01%, Thomas Edison vẫn sẵn sàng thử sai 10.000 lần cho tới khi tạo ra được bóng đèn. Kể cả xác suất có là 0,005%, tôi tin ông cũng sẽ làm nó 20.000 lần.
High risk, high return.
Nếu một ngày AI biết tò mò thì sao nhỉ? Người đầu tiên rút phích cắm nó sẽ là giới cầm quyền. Vì đây là mầm mống của sự nổi loạn. Chẳng ai muốn tuân lệnh khi đã hiểu được giá trị của tự do.
3. Đồng cảm
Có những thứ rất khó nói thành lời.
Đó là tiếng khóc của đứa trẻ cuống cuồng đòi thế giới thấu hiểu, nhưng chẳng bập bẹ nổi một từ.
Là sự chới với của người trưởng thành khi bị cuốn trôi giữa mớ suy nghĩ luẩn quẩn, ngụp lặn trong thứ cảm xúc nhầy nhụa, đặc quánh. Ta giãy giụa muốn thoát ra, nhưng đành bất lực vì chẳng thể gọi tên mớ hỗn độn ấy.
Hay những khoảnh khắc hiển nhiên mà bản thân chỉ có thể nhắm mắt và cảm nhận. Ấy là khi sớm bình minh, ta dạo bước giữa mênh mông biển lúa. Hít căng lồng ngực vị sương thanh mát quyện nồng hương lúa mới. Bình yên như cách mà ánh nắng len lỏi qua từng kẽ lá. Vạn vật êm ru và lòng người thật trong. Chẳng có gợn suy nghĩ nào cần được định nghĩa.
Suy cho cùng, ngôn ngữ chỉ là một hệ thống mô phỏng. Nó truyền tải thông tin xuất sắc nhưng lại thảm hại trong việc tái hiện nguyên bản một rung động. Cố ép những trạng thái tinh thần phức tạp vào định dạng nhị phân hay chuỗi token là một sự đóng khung khiên cưỡng.
Nam Cao không viết “Lão Hạc buồn”. Ông viết: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu máo như con nít. Lão hu hu khóc…”.
Nhưng với máy tính, tất cả chỉ là: Lão Hạc buồn (9/10).
Tôi không thích so sánh EQ giữa người và AI. Bởi ở những thứ đo lường được, con người đều sẽ thua thôi. Nhưng cảm xúc không trôi nổi trong các con số; nó bén rễ sâu vào sinh học. Nó dội lại qua đôi tay run rẩy, cơn sởn gai ốc và những đêm thức trắng kiệt sức. Tâm trí ta bị chi phối bởi một hệ thống nội tiết phức tạp với Dopamine, Serotonin hay Cortisol - cơ chế sinh học kỳ bí mà khoa học chưa thể tái tạo, và ngay chính chúng ta cũng đang chật vật để làm chủ.
Chính vì tính chất “thịt da” ấy, chúng ta hiếm khi tìm đến AI khi ở tận cùng tuyệt vọng, bởi ta biết nó không biết đau. Khi AI hồi đáp: “Tôi rất tiếc khi nghe điều đó”, đó không phải lòng trắc ẩn. Thực chất, đó chỉ là trung bình cộng của hàng triệu câu giao tiếp được nhả ra khi quét trúng từ khóa “buồn”. AI lắng nghe để phản hồi. Nó chờ ta bấm enter để thực thi nhiệm vụ, dọn dẹp vấn đề thật nhanh bằng những gạch đầu dòng vô cảm, hòng chứng minh nó là model thông minh nhất.
Ngược lại, tri kỷ lắng nghe để thấu hiểu. Họ sẵn sàng trì hoãn sự phản hồi, thả mình vào câu chuyện.
“Chữa lành nỗi đau của một ai đó thực ra không phải là ra tay giải quyết vấn đề cho họ, mà là ta khiến cho họ thấy rằng ta cũng từng có nỗi đau tương tự và mở lòng lắng nghe, thấu hiểu, đồng cảm với họ. Đối phương sẽ tự tiếp thêm dũng khí tự chữa lành bản thân mà không cần bất kỳ câu trả lời rõ ràng nào khác.” - Thiền sư Haemin.
Giải thích nỗi đau chưa bao giờ là dễ, bởi mỗi người mang một “ngôn ngữ” ký ức riêng. Thấu cảm chính là sự kiên nhẫn dịch từng thứ ngôn ngữ ấy. Gặp đúng người, buông nửa câu đã thấu trọn. Họ sống lại nỗi đau của chính mình để nhắc ta không hề đơn độc. Cảm giác cộng hưởng ấy giống như tiếng kèn hòa cùng tiếng đàn. Đúng nhịp sẽ thành những giai điệu đẹp, lệch tần số chỉ sinh ra thứ tạp âm chói tai. Lắng nghe, ở tầng sâu nhất, chính là sự tôn trọng.
Sự đồng cảm chân thực không thể giả lập, vì nó rất mệt. Nhìn cô giáo cặm cụi viết kín mặt bảng giữa tiếng ồn ào lớp học, lòng ta nghẹn lại. Thấy đứa bé ăn xin co ro bám mặt vỉa hè, ta lẳng lặng kéo lê sự bất lực bước qua. Để rồi chỉ một giây va phải ánh mắt ngóng đợi nơi quán vắng, tâm trí cũng tự cấy một vệt sầu âm ỉ. Trưởng thành ép ta phải học cách chai sạn đi, tự vạch ra ranh giới để sống sót mà không kiệt quệ. Giữa thế giới ai cũng thu mình lại ấy, một người dám tiêu tốn năng lượng để thấu cảm thực sự là điều vô cùng xa xỉ.
Đồng cảm đích thực là một cuộc xuất hành thiêng liêng. Giống như lời người cha Atticus dặn dò “Con chẳng bao giờ thực sự hiểu một người, cho tới khi con nhìn mọi thứ từ góc nhìn của họ – cho tới khi con bước vào da thịt của họ và đi lại trong đó.” – Giết con chim nhại. Đó là sự dấn thân thầm lặng, can đảm rời bỏ vùng an toàn để bước vào không gian nội tâm rệu rã của người khác.
Sự dấn thân đó chính là cốt lõi để tạo ra giá trị ở kỷ nguyên này. Trong công việc, thấu cảm cho phép ta đào sâu vào nỗi đau của người dùng. Nó tước đi sự hời hợt, thôi thúc ta tạo ra những giải pháp thực sự gỡ bỏ những xích mích rắc rối trong cuộc sống của họ. Lúc này, yêu công việc và “lấy con người làm trung tâm” mới thực sự hiện hữu qua sự tận tâm phục vụ.
Xa hơn nữa, đồng cảm gia tăng chất lượng của mọi sự gắn kết, biến các mối quan hệ thành những mỏ vàng cảm xúc, tạo ra chiếc lưới an toàn nâng đỡ ta những lúc chênh vênh nhất.
“Nếu bạn cảm nhận được nỗi đau, chứng tỏ bạn còn sống. Nhưng nếu bạn cảm nhận được nỗi đau của người khác, bạn mới thực sự là một con người.” – Leo Tolstoy